Hotline: 0982559529
Header Style 29

My Cart0

0
There are 0 item(s) in your cart
Subtotal: 0

Ông Hoàng Bơ – Những điều cần biết

Ông Hoàng Bơ - Những điều cần biết

Ông Hoàng Bơ là ai?

Ông Hoàng Bơ - Những điều cần biết
Ông Hoàng Bơ – Những điều cần biết

Ông Hoàng Bơ hay còn gọi là Quan Hoàng Bơ, ông là một trong mười vị Quan Hoàng Tứ Phủ thuộc hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Ông hay ngự tại Thoải cung, nhận trọng trách cai quản Đền Vàng Thủy Phủ.

Là con thứ ba của Vua cha Bát Hải Động Đình. Có nhiều sự tích kể về Ông như: Khi thì Ông hiện thành hoàng tử có vẻ ngoài mĩ miều, cưỡi cá chép màu vàng cưỡi sóng trên mặt nước, lúc thì biến hóa để ngao du bốn biển, thưởng rượu, ngâm thơ, chơi cờ, đàn hát, trông trăng cùng với bạn tiên… hưởng các thú vui của những bậc tao nhân mặc khách.

Theo như những tích truyện được truyền miệng về Ông kể lại, Ông vốn là em của Quan Đệ Tam Thoải Phủ, thường hay rong ruổi hưởng thụ trên khắp các chốn thần tiên. Nhưng khi chứng kiến cảnh khổ cực lầm than của người dân, Ông đã theo lệnh của Vua cha tới nhân gian tạo phúc giúp cho người dân làm ăn buôn bán thuận lợi, học hành đỗ đạt và xã hội có được một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Về sau Ông đã được ban tước hiệu là Thượng Đẳng Thần.

Sự tích Ông Hoàng Bơ

Tích thứ nhất:

Tại làng Kênh Xuyên, từ lâu đã truyền tai nhau câu chuyện về một đôi vợ chồng già, đã có tuổi nhưng vẫn chưa có con. Đêm đó, trong giấc mơ của họ, xuất hiện một thánh nữ xinh đẹp tuyệt trần, mang y phục màu trắng toát ra vẻ ngoài uy nghi, trên tay bồng một bé trai kháu khỉnh, cưỡi kim long từ dưới nước bay lên. Thánh nữ tự xưng mình là con gái của Vua cha Bát Hải Động Đình tên là Thùy Linh Ngọc Dung Xích Lân Long Nữ Công Chúa. Vì thấy đôi vợ chồng già cần cù, lam lũ, chịu thương chịu khó, hương khói tạo phúc nên đã cho hoàng tử đầu thai vào nhà làm con để báo hiếu công đức, về sau sẽ cứu giúp chúng sinh.

Không lâu sau, người vợ mang thai và sinh được một bé trai kháu khỉnh, khỏe mạnh. Đứa trẻ lớn lên và chuyên tâm nghiên cứu đạo Phật mà không quan tâm đến việc thành lập gia thất. Sau khi cha mẹ cậu qua đời không lâu, bỗng một đêm, người dân trong làng đều mơ thấy một vị hoàng tử đầu đội kim khôi, thân mang y phục màu trắng, cưỡi trên đôi bạch xà và nói rằng: “Ta là hoàng tử dưới long cung giáng sinh nhân gian để tạo phúc, nay đã hết thời hạn nên ta quay trở về long cung. Các ngươi phải lập đền thờ phụng Thánh Mẫu Thủy Tinh cẩn thận, về sau có họa ta ắt sẽ tới giúp.”

Buổi sáng hôm sau, người dân trong làng đồn đại nhau về giấc mơ kỳ lạ vào đêm qua của họ. Họ quyết định cung kính và tôn trọng giấc mơ đó bằng cách lập thêm một bài vị thờ phụng Minh Đức Hoàng Bơ Thoải đại vương để thờ cúng Thánh Mẫu Thủy Tinh, tin rằng nếu có họa gì xảy ra, hoàng tử sẽ đến giúp đỡ. Điều này đã khiến Đền Thủy Tinh Ngọc Dung Xích Lân Long Nữ Công Chúa trở thành một địa điểm tôn nghiêm và linh thiêng trong lòng người dân, thu hút nhiều du khách tìm hiểu về câu chuyện và đến thăm quan.

Tích thứ hai:

Vào một đêm mồng sáu tháng ba năm Hoằng Định thứ 6, tại một ngôi đền thờ cổ ở gần làng Tả Thanh Oai, các nho sinh đang tổ chức cuộc luận văn ngâm thơ để tôn vinh các vị thần. Khi đêm đã khuya, có một nho sinh mặt mày sáng sủa, khôi ngô, tuấn tú mặc y phục màu trắng bước tới và tự xưng là Đệ Tam Thái Tử. Thái tử đã cùng với các nho sinh khác luận văn ngâm thơ đến canh khuya.

Tuy nhiên, vào rạng sáng hôm sau, khi tất cả mọi người chuẩn bị ra về, Đệ Tam Thái Tử đột nhiên biến mất mà không để lại dấu vết. Các nho sinh cố gắng tìm kiếm Thái tử nhưng không thấy đâu cả. Chính vì sự kỳ lạ này mà nhiều người tin rằng Đệ Tam Thái Tử có thể là một vị thần giáng xuống trần gian để giúp đỡ những người cần thiết.

Kể từ đó, cứ mỗi độ sang xuân, người dân địa phương lại tổ chức những cuộc luận văn ngâm thơ để mừng xuân và cầu mong các vị thần tiên giáng trần giúp đỡ nhân gian. Đây cũng trở thành một trong những phong tục văn hóa truyền thống đặc sắc của người dân địa phương, thu hút đông đảo du khách đến tham quan và trải nghiệm.

Tích thứ ba:

Thái tử của vua Nam Tống là Tống Khắc Bính, là một nhân vật quan trọng trong lịch sử Trung Quốc. Sau khi bị đánh bại trong cuộc tranh giành Nam Bắc Tống, ông đã buộc phải giương buồm ra biển Đông và thác hóa. Trên đường đi, ông gặp rất nhiều gian khó và chịu đựng rất nhiều cảnh đau đớn. Cuối cùng, thi thể của ông dạt tới cửa Cờn và đã được một vị sư trụ trì tên là Ông Hoàng Chín vớt lên và an táng.

Ông Hoàng Chín là một vị sư rất tài năng và có lòng hiếu thảo với các vị thần tiên, luôn sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn trong cuộc sống. Khi ông tìm thấy thi thể của Thái tử Tống Khắc Bính, ông đã cầu nguyện cho linh hồn của Thái tử được siêu thoát và hồi sinh. Từ đó, Thái tử Tống Khắc Bính được tôn làm một vị thần trong truyền thuyết và được gọi là Ông Hoàng Bơ Thoải.

Sau đó, Ông Hoàng Bơ Thoải đã được người dân tôn vinh và sùng bái, vì ông đã phù hộ cho các triều đại Lý, Trần tạo nên nhiều công lao hiển hách. Nhiều người tin rằng, ông là một vị thần tiên đặc biệt, có khả năng giúp đỡ và bảo vệ những người đang trong cơn khó khăn và cần được sự giúp đỡ. Đến nay, Ông Hoàng Bơ Thoải vẫn là một trong những vị thần tiên được tôn vinh và thờ cúng nhiều nhất trong văn hóa dân gian Việt Nam.

Đền thờ Ông Hoàng Bơ nằm ở đâu?

Vì Ông Hoàng Bơ Thoải nằm trong Tứ Phủ Quan Hoàng nên hầu hết các đền thờ thuộc hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu đều có thờ Ông. Dưới đây là danh sách một vài đền thờ Ông Hoàng Bơ nổi tiếng mà các bạn có thể tham khảo:

Đền Ông Hoàng Bơ tại Hải Phòng – Đền Vạn Ngang

Đền Vạn Ngang - tỉnh Thái Bình
Đền Vạn Ngang – Hải Phòng

Đền Vạn Ngang, tọa lạc tại chân núi Hoành Sơn thuộc quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, là một trong những địa điểm tâm linh nổi tiếng và được người dân trong khu vực rất kính trọng. Nơi đây được xây dựng để thờ phượng Thánh Hoàng Bơ Thoải và có nguồn gốc từ năm Thái Ninh thứ 3, thời kỳ Lý. Trong quá khứ, đền còn được biết đến với cái tên Thủy Tiên Am.

Với kiến trúc đặc trưng của các đền thờ cổ truyền Việt Nam, Đền Vạn Ngang mang đậm chất văn hóa của đất nước. Đến nay, nơi đây vẫn là một trong những điểm tham quan và du lịch tâm linh quan trọng, thu hút đông đảo du khách đến từ khắp nơi.

Điểm đến này không chỉ thu hút du khách bởi giá trị tâm linh và kiến trúc cổ kính mà còn là nơi diễn ra nhiều hoạt động văn hóa và giáo dục. Nơi đây là điểm đến ưa thích của các bậc nho sinh, nơi họ tổ chức các cuộc bình văn ngâm thơ, tìm hiểu và truyền bá các giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam. Đến Đền Vạn Ngang, du khách không chỉ tìm hiểu về lịch sử, văn hóa tâm linh mà còn trải nghiệm văn hóa dân gian đầy sắc màu và thú vị của Việt Nam.

Đền Ông Hoàng Bơ tại Thái Bình – Đền Hưng Long

Ai về Tiền Hải Thái Bình
Đền Hoàng Bơ Thoải lung linh rạng ngời

Đền Hưng Long, hay còn gọi là Hưng Long Linh Từ, nằm tại xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, là một trong những ngôi đền lâu đời và nổi tiếng tại Việt Nam. Với kiến trúc độc đáo, nơi đây mang đậm phong cách kiến trúc truyền thống của dân tộc Việt Nam và được xem như một biểu tượng văn hóa của đất nước.

Đền Hưng Long - Thái Bình
Đền Hưng Long – Thái Bình

Ngoài giá trị kiến trúc, Đền Hưng Long còn có ý nghĩa tâm linh đặc biệt. Nơi đây gắn liền với một trong những sự tích quan trọng nhất trong truyền thuyết về Ông Hoàng Bơ, được xem như vị thần bảo vệ đất nước và con người. Theo sử sách, Ông Hoàng Bơ đã xuất hiện và cứu giúp người dân tại Đền Hưng Long, giúp họ chống lại các thế lực tà ác và giữ vững bình yên cho vùng đất này.

Với vẻ đẹp cổ kính, không gian linh thiêng và giá trị lịch sử tâm linh đặc biệt, đền Hưng Long đã trở thành một trong những điểm tham quan, hành hương và tìm hiểu văn hóa đặc sắc của Việt Nam, thu hút hàng nghìn lượt du khách trong và ngoài nước đến thăm quan và khám phá.

Đền Ông Hoàng Bơ tại Hà Nội

Đền Mẫu Thoải hay Phúc Xá Linh Từ nằm tại địa chỉ số 21, tổ 9 phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Hà Nội, được xây dựng từ rất lâu đời và được coi là một trong những địa điểm tôn nghiêm và linh thiêng nhất tại thủ đô Hà Nội. Nơi đây được xây dựng để thờ vọng Ông Hoàng Bơ, là một vị thần trong truyền thuyết dân gian Việt Nam, và là một trong những điểm đến tâm linh quan trọng của người dân trong và ngoài khu vực. Với kiến trúc trang trọng, lịch sử lâu đời và ý nghĩa văn hóa đặc biệt, Đền Mẫu Thoải hay Phúc Xá Linh Từ là một trong những điểm tham quan, du lịch và tìm hiểu văn hóa tại Hà Nội không thể bỏ qua.

Hầu giá ông Hoàng Bơ

Ông Hoang Bơ - Những điều cần biết
Ông Hoàng Bơ – Những điều cần biết

Quan Hoàng Bơ là một trong tứ vị Khâm sai nhận lệnh vua Mẫu để đi bắt lính nhận đồng. Khi ngự đồng, ông luôn mặc áo trắng được thêu hình rồng uốn lượn thành chữ Thọ, thắt đai vàng, đội khăn xếp thắt lét trắng và cài kim lệch trắng màu bạc. Với phong thái nho nhã, trang phục trang nhã và sự điềm đạm, hiền hậu, ông luôn thu hút sự quan tâm và tôn kính của người dân.

Khi ông trở về sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông thường dừng lại tại đền thờ để tấu hương và thể hiện sự tôn trọng với các vị thần tiên. Trong những lần này, ông thường khai hoang rồi cầm mái chèo hoặc đôi hèo hoặc mang theo mo quạt thong thả dạo chơi. Có những lần ông thể hiện hình ảnh đang cưỡi ngựa chu du, tạo ra một cảm giác nhẹ nhàng, thoải mái cho người xem.

Sau khi làm lễ khai quang, Quan Hoàng Bơ thường ngự tọa và hiến tửu cho các vị thần tiên. Ông cũng nghe thơ và ban phát tài lộc cho những người dân đến dâng lễ. Với tình cảm và lòng trung thành của mình, ông đã được người dân tôn vinh và yêu mến, và trở thành một trong những nhân vật quan trọng trong văn hóa dân gian Việt Nam.

Dâng lễ Ông Hoàng Bơ

Do ông Hoàng Bơ là một vị thần tiên phục vụ tại Thoải Cung, nơi mà trang phục trắng là một truyền thống và được coi là phù hợp với Ngài. Vì vậy, đồ lễ có màu trắng được xem là vật lễ thành tâm nhất để chiêm bái tại cửa đền thờ ông Hoàng Bơ.

Nhiều nơi trên khắp đất nước, ngày 26/06 được xem là ngày hóa của ông Hoàng Bơ, ngày mà người ta tôn vinh và tưởng nhớ Ngài. Vào dịp này, du khách từ khắp nơi đều sắm sửa đồ lễ và hành hương tới các đền thờ ông Hoàng Bơ để cầu nguyện và xin ơn từ ngài.

Với tình cảm sùng kính đối với ông Hoàng Bơ, nhiều người tin rằng việc sắm sửa và mang đồ lễ trắng đến đền thờ ngài sẽ mang lại may mắn, phúc lộc và bình an cho mình và gia đình. Điều này càng thể hiện sự kính trọng và lòng thành kính của người dân đối với vị thần tiên này, và cũng giúp bảo tồn văn hóa dân gian Việt Nam từ đời này sang đời khác.

Lễ vật dâng lên Ông Hoàng Bơ thông thường bao gồm những vật phẩm sau:

  • Một mâm hoa quả tươi và một lọ hoa thơm.
  • Một đĩa xôi, một con gà hoặc một khoanh thịt luộc, rượu trắng và tiền vàng.
  • Trầu cau
  • Sớ dâng lễ
  • Oản lễ màu trắng

Dưới đây là một số gợi ý mẫu oản dâng lên Ông Hoàng Bơ, các bạn có thể tham khảo:

Oản trắng - Lễ vật dâng Ông Hoàng Bơ
Oản trắng – Lễ vật dâng Ông Hoàng Bơ
Oản trắng - Lễ vật dâng Ông Hoàng Bơ
Oản trắng – Lễ vật dâng Ông Hoàng Bơ
Oản trắng dâng lễ Ông Hoàng Bơ
Oản trắng – Lễ vật dâng Ông Hoàng Bơ

Ngoài việc mang đến đền thờ những đồ lễ trắng như truyền thống, nếu có điều kiện kinh tế tốt hơn thì người ta cũng có thể dâng những lễ vật khác để thể hiện lòng thành kính với ông Hoàng Bơ. Tuy nhiên, nguyên tắc cơ bản khi dâng lễ vật chính là xuất phát từ lòng thành tâm, chứ không phải chỉ để thể hiện sự xa hoa hay trưng bày mâm cao cỗ đầy.

Thật sự, nếu có lòng thành tâm và tôn kính đối với Ông Hoàng Bơ, thì một nén nhang cũng đủ để Ông chứng giám và phù hộ.

Đi lễ đền Ông Hoàng Bơ cầu gì?

Hầu hết mọi người khi đến đền thờ Ông Hoàng Bơ đều có những cầu nguyện và mong ước riêng. Tuy nhiên, điểm chung của những lời cầu nguyện này là mong muốn được ông Hoàng Bơ phù hộ và giúp đỡ trong cuộc sống.

  • Những người trẻ tuổi thường cầu nguyện để được ông Hoàng Bơ phù trợ, giúp đỡ trong học tập và có một tương lai tốt đẹp hơn.
  • Các doanh nhân và người làm ăn thường cầu nguyện thuận lợi trong việc kinh doanh, giúp cho công việc buôn bán của họ được “thuận buồm xuôi gió”, suôn sẻ, không gặp trở ngại.
  • Những người trí thức và quan chức thường cầu nguyện để ông Hoàng Bơ giúp họ đạt được thành công trong công việc, đỗ đạt, thăng quan tiến chức.
  • Người dân thường cầu nguyện cho cuộc sống của họ bình an, hạnh phúc và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

Tổ chức các lễ hội và lễ cầu nguyện tại các đền thờ Ông Hoàng Bơ cũng là một nét văn hóa đặc trưng của người Việt. Những hoạt động này không chỉ thể hiện lòng sùng kính và tôn trọng với Ông Hoàng Bơ, mà còn là dịp để mọi người đoàn kết, gắn bó với nhau và tìm kiếm sự giúp đỡ, an lạc và hạnh phúc trong cuộc sống.

Bản văn ông Hoàng Bơ

Trên điện ngọc rồng bay năm sắc

Dưới Động Đình ghềnh thác nguy nga

Mênh mông một dải giang hà

Ầm ầm sóng vỗ xa xa bạc đầu

Loài thuỷ tộc đâu đâu tìm đến

Vượt vũ môn xuất hiện thần long

Biến lên mặt nước lạ lùng

Ông Hoàng Bơ Thoải chân dung khác thường

Ông Bơ Thoải đường đường dung mạo

Mặt nhường gương tiết tháo oai phong

Thanh xuân một đấng anh hùng

Toàn tài văn võ lầu thông mọi đường

Sáng tựa gương trần ai chẳng bụi

Bầu rượu tiên thơ túi xênh xang

Khăn thêu áo trắng đai vàng

Võ hài chân dận vai mang đôi hèo

Cưỡi ngựa bạch vai đeo cung tiễn

Tay kiếm vàng trước điện bước ra

Thương dân trên cõi Sa Bà

Lòng tham chìm đắm đức hoà khó lên

Trước bệ ngọc Hoàng liền tấu đối

Lên cõi trần mở hội phúc duyên

Khâm sai Hoàng kíp băng miền

Phong lôi một trận nổi lên cõi phàm

Bạn tiên nữ xếp hàng rong ruổi

Cá kình nghê thẳng lối tiễn đưa

Sai quân dưỡng trực lên bờ

Trống dong cờ mở thực là nghiêm trang

Sắp hai hàng càng vàng tán tía

Kiệu vàng son nghi vệ bát âm

Tuần vương nghỉ gót dừng chân

Hoạ thơ Lý Đỗ ca ngâm đọ cờ

Tiệc xong lại chèo đua bẻ lái

Truyền chèo về Bát Hải dong chơi

Quỳnh Côi, Phượng Dực mấy nơi

Sông Thao, sông Cả qua chơi Lục Đầu

Chơi khắp hết sông Cầu sông Mã

Truyền ba quân các ngả thi đua

Lên rừng lấy gỗ chò hoa

Đem về dâng tiến vua cha Động Đình

Ngự Bắc kinh, Thăng Long quý địa

Phủ Tây Hồ tú khí danh lam

Dừng thuyền bái yết Mẫu Vương

Mẫu ban chấp chính cầm quyền vào ra

Cho coi sóc các toà cung nội

Riêng một bầu phượng ruổi loan ca

Đông Cuông, Tuần Quán các tòa

Cây cao bóng mát rườm rà tốt tươi

Đàn cá lội rõ mười không khác

Kết thành lầu dàn dặt đêm thanh

Trăng soi đáy nước thuỷ đình

Có thoi Hoàng thoải xinh xinh khác thường

Thoi sáng ánh kim cương lấp lánh

Biết bao người mến cảnh say sưa

Trách ai vô ý không ngờ

Qua không bái yết thực là khó van

Ai biết phép gia ban tài lộc

Độ cho người văn học thông minh

Hoàng về trắc giáng điện đình

Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường.

Thơ phú trong văn ông Hoàng Bơ

Bản 1

Vậy có thơ rằng

Lau lách xạc xào, gió hiu hiu thổi

Nửa một khoang thuyền, sưởi ấm hồn thơ

Tay nâng bầu rượu, ngồi tựa mạn thuyền

Bút tiên nghiên ngọc, hồn thơ lai láng

Thơ hỏi cung hằng, (sao) lúc mờ lúc sáng

Trăng nhớ thương ai, khi khuyết khi đầy

Hay trăng còn vương vấn chi đây

Rượu tiên chưa cạn, chia tay sao đành

Khoan nhặt mái chèo, cảnh đền bỗng tới

Trăng in hồ nước, soi mái tam quan

Tiếng mõ vang vang, rũ sạch lòng phàm

Trăng treo đầu núi, vào chùa niệm phật

Nam mô A di đà phật

Như lắng tai nghe, chuông chùa thức tỉnh

Hoàng vẫy tay gọi, các thanh đồng ơi

Bản đền đây, Hoàng đã tới nơi rồi

Lúc trở ra về, sao thưa trăng khuất

Vì mến thương hoàng, trăng ẩn nấp bên non

Thoi ông đi trở ánh trăng tròn

Lúc về trăng lặn chỉ còn bầu rượu túi thơ

Tay nâng bầu rượu, cạn tự bao giờ

Mỉm cười hoàng hẹn, mai chờ trăng lên

Bản 2

Động Đình tây hồ thu nguyệt huy

Tiêu Tương giang bắc tảo hồng phi

Túy khách mãn thuyền ca Bạch trữ

Bất tri sương lộ nhập thu y.

Mực in vách phấn đề thơ

Hồ Tây sóng nước bây giờ là đây

Gió trăng chở một thuyền đầy

Của kho vô tận, biết ngày nào vơi

Phú nói:

Thuyền nan nhè nhẹ một con chèo

Thuyền Hoàng Bơ Thoải dạo Hồ Tây

Sóng dập dờn sắc nước trời mây

Bát ngát nhẽ ghẹo người du lãm

Yên thuỷ mang mang vô hạn cảm

Ngư long tịch tịch thục đồng tâm

Rượu lưng bầu mong mỏi bạn tri âm

Xuân vắng vẻ biết cùng ai ngâm họa

Gió hây hẩy không nức mùi nhang xạ

Nhác trông lên vách phấn đã đề bài

Thơ ai, xin họa một vài

(Trích Tỳ Bà Hành)

Hát nói:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu

Người xuống ngựa khách dừng chèo

Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti

Say những luống ngại chi chia rẽ

Nước mênh mang đượm vẻ gương trong

Đàn ai nghe vẳng bên sông

Chủ quên trở lại khách không vội về

Lần tìm sẽ hỏi ai đàn tá

Dừng dây tơ nấn ná làm thinh

Dời thuyền ghé lại bên ghềnh

Khêu đèn thêm rượu còn dành tiệc vui

Mời mọc mãi thấy người bỡ ngỡ

Tay ôm đàn che nửa mặt hoa

Vặn đàn mấy tiếng dạo qua

Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng hay

Nghe não nuột mấy dây buồn bực

Dường than niềm tấm tức bấy lâu

Mày chau tay gảy khúc sầu

Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn

Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt

Trước Nghê thường sau thoắt Lục yêu

Dây to dường đổ mưa rào

Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng

Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy

Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu

Trong hoa oanh ríu rít nhau

Nước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh

Nước suối lạnh dây mành ngừng đứt

Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ

Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ

Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay

Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước

Ngựa sắt giong xô xát tiếng đao

Cung đàn trọn khúc thanh tao

Tiếng buông xé lụa lụa vào bốn dây

Thuyền mấy lá đông tây lạnh ngắt

Một vầng trăng trong vắt lòng sông

Ngậm ngùi đàn bát xếp xong

Áo xiêm khép nép hầu mong giải lời

Rằng xưa vốn là người kẻ chợ

Cồn Hà Mô trước ở lân la

Học đàn từ thuở mười ba

Giáo phường đệ nhất chỉ đà chép tên

Gã thiện tài so phen từng khúc

Ả Thu Nương ghen lúc điểm tô

Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua

Biết bao thê thảm chuốc mua tiếng đàn

Vành lược bạc gãy tan dịp gõ

Bức quần hồng hoen ố rượu rơi

Năm năm lần lữa vui cười

Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu

Tiếng chi đó nghe liền sớm tối

Cuốc kêu sầu vượn hót véo von

Hoa xuân nở nguyệt thu tròn

Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng

Há chẳng có ca rừng địch nội

Giọng líu lo buồn nỗi khó nghe

Tỳ bà nghe dạo canh khuya

Dường như tiên nhạc gần kề bên tai

Chợt tỉnh giấc gót hài xa lắc

Hội long vân dìu dặt còn đâu

Màn đêm buông xuống một màu

Mơ mơ tỉnh tỉnh thấy đâu mơ màng

Bản 3

Cách trở duyên trần dải sông ngân

Hoa theo dòng nước, luống tần ngần

Chân trời ảm đạm, như huyễn mộng

Góc bề tờ mờ nhạt áng vân

Đêm đêm ngọc rớt trông tri kỷ

Sáng sáng châu rơi nhớ cố nhân

Thi ca xướng hoạ tô bồ liễu

Điểm xuyết giai nhân ý trọn vần

Ngồi tựa khe suối gảy cung đàn

Chạnh lòng nhớ tới bạn tri loan

Tâm thơ Đỗ Phủ hồn theo gió

Gửi khách Tương Như khúc phượng cầm

Hỡi ai tửu sớm trà chưa tỉnh

Nặng gánh gương đàn nợ nước non

Non sông ghi dấu người anh kiệt

Cờn hải long lanh lớp sóng vàng

Chín bể ai hay lòng sắt đá

Ba ngôi đâu tá tuyết chiêu dương

Noi gương kim cổ lòng man mác

Phú quý vinh hoa giấc mộng vàng

Ba chén rượu Hoàng ngồi chếnh choáng

Lấy câu thơ bạch tuyết ngâm nga

Bạn cùng người tuyết nguyệt phong hoa

Lấy tiên tửu cầm ca làm nhã thú

Hỏi còn gì ngon hơn rượu nhỉ

Quyết say cho tuý luý tang bồng

Đẹp gì bằng khi gió mát trăng trong

Hiến rượu thánh bàn cờ tiên dong dả

Khi nhàn hạ dạo chơi Xích Bích

Một con đò mặt nước mặt nước lặng như tờ

Một mái chèo hiên ngang gần Bạch Lộ

Buông chèo hoa len lỏi bến sông Tương

Nghe xa xa réo rắt giọng cung thương

Giật mình nghĩ hiên ngang thuở trước

Ngẫm sự đời cũng ví tựa phù du

Kho vô tận ngàn thu còn chưa bỏ

Tham khảo

Đền Vn Ngang nằm ở đâu?

Đền Vạn Ngang tọa lạc ở chân núi Vạn Ngang, hay còn gọi là núi Hoành Sơn. Ngọn núi này nằm giữa trung tâm của 9 ngọn núi Đồ Sơn và hội tụ linh khí của đất trời.

Đền Vạn Ngang Đồ Sơn là vị trí thờ của Quan Hoàng Bơ và Tiên Bằng Công Chúa. Đây được nhìn nhận là vị trí thờ chính của Quan Hoàng Bơ, cho nên ngày nay đền còn có tên gọi khác là Đền Quan Hoàng Bơ Phủ. Chính là một di tích văn hóa cổ truyền tâm linh lâu đời và linh thiêng với người dân Hải Phòng nói riêng và nhân dân cả nước nói chung.

Lch s đền Vn Ngang

Đền Vạn Ngang xưa có tên là Thủy Tiên Am được thành lập năm Thái Ninh thứ 3 triều Lý thờ Chư Vị Thánh Tiên. Chính là vị trí các bậc văn nho chức sắc tổ chức bình thơ xướng họa.

Truyền thuyết kể rằng: Lưu Đình Chất người làng Đông Khê xã Quỳ Chử, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa, khi chưa đỗ đạt ông có tọa lạc mộng sẽ bắt gặp được một vị long thần phù cứu trong kỳ thi tiến sỹ. Trong cuộc bình văn thơ năm Hoằng Định thứ 7, ông đã được âm phù của thánh hoàng, tiếp sau đó ông đỗ đạt khi ông dã ngoại tứ tuần.

Để cảm tạ ơn đức của Ngài, sau lúc làm quan, ông đã cho thành lập lại ngôi đền. Vào thời điểm năm niên hiệu Vĩnh Tộ thứ tư, ngôi đền chính thức được hoàn thiện bằng gạch lợp ngói nối phong cách xây dựng hình chữ nhị, có cổng tam quan, đài cửu thiên và bia hạ mã. Cây đa cổng đền do tiến sĩ Lưu Đình Chất hậu tạ thánh ân đã phù hộ đỗ đạt.

Tên đền Hoành Sơn Linh Từ được đặt vào khoảng thời gian Vĩnh Tộ thứ tư.

Đền Vạn Ngang - Hải Phòng
Đền Vạn Ngang – Hải Phòng

Vào thời điểm năm 1886, ngôi đền cổ đó đã bị Pháp hủy diệt để mở đường thành lập nhà nghỉ thống sứ Bắc Kì. Sau đó nhân dân và chủ thầu thành lập lại ngôi đền nhỏ để phụng sự. Tới năm 1974, ngôi đền một lần nữa bị hủy diệt do cuộc chiến tranh.

Tới năm 1991, Thủ Nhang Lưu Đức Thắng – một người cả đời chăm chút cho ngôi đền đã cùng các con nhang, đệ tử thập phương thành lập lại. Đền Vạn Ngang ngày nay rất khang trang. Ngôi đền tọa lạc cheo leo bên một vách đá nhìn thẳng ra biển Đồ Sơn đầy gió tạo nên một cảnh quan sơn thủy hữu tình.

Huyn tích đền Vn Ngang

Tương truyền rằng vào một đêm cuối xuân năm niên hiệu Khai Thái thứ 5, các bậc nho sinh đang bình thơ tại Đền Vạn Ngang Đồ Sơn, bỗng có mặt một vị tiên bà xưng là Tiên Bằng Công Chúa. Bà cùng xướng họa thơ ca và chỉ dạy thời cuộc cho người đương thời hiện nay. Bà biết rõ về thời cuộc hiện nay, dạy cho nhân dân biết khai hoang trông trọt, biết về điều kiện thời tiết để khi ra khơi và né được các thiên tai đột nhiên của thiên nhiên.

Theo đó ngôi đền thờ bà – Tiên Bằng Công Chúa.Vào thời điểm năm niên hiệu Hoằng Định thứ 6, đêm ngày ngày mồng 6 rạng sáng ngày mồng 7 tháng 3, các bậc nho sinh đang bình văn đọc thơ bỗng xuất hiện một vị nho sinh mặt mày khôi ngô tuấn tú, mặc sắc phục trắng xưng danh là Đệ Tam Thái Tử cùng bình văn đọc thơ.

Rạng sáng ngày hôm sau thì không thấy vị nho sinh đâu nữa. Vì vậy, người đời sau này, cứ mỗi độ xuân về lại tổ chức các cuộc bình văn đọc thơ để mong các bậc thần tiên giáng phàm. Cũng vì thế, Đền Vạn Ngang đã lập thờ Quan Đệ Tam Thái tử tức Quan Hoàng Bơ là quan thủ đền.

L hi đền Vn Ngang

Đền Vạn Ngang tổ chức lễ hội hàng năm vào 3 ngày, từ thời điểm ngày mùng 6/3 tới ngày 8/3 âm lịch. Đây được xem là ngày hiện hóa của Thánh Hoàng Bơ tại đền Vạn Ngang.

Trong suốt 3 ngày, phần lễ và phần hội của đền Vạn Ngang được tổ chức xen kẽ. Những hoạt động này bao gồm lễ rước kiệu Thánh Hoàng Bơ từ đền ra chợ và trở về đền, lễ dâng hoa và tảo mộc, cúng tế và hát xoan, múa lân, múa rồng, múa bồ câu, múa trống quân, chơi trò chơi dân gian và thưởng thức ẩm thực địa phương.

Lễ hội đền Vạn Ngang là một dịp để người dân và khách du lịch có cái nhìn sâu sắc hơn về các lễ nghi và tín ngưỡng truyền thống của dân tộc Việt Nam. Nó cũng là một dịp để người dân địa phương kết nối và giao lưu với nhau, cùng nhau tạo dựng và phát triển văn hóa địa phương. Lễ hội thu hút đại đa số người dân địa phương và các khách du lịch từ khắp nơi đến tham quan và thưởng thức không khí rộn ràng, sôi động và tràn ngập niềm vui.

Liên hệ

  • Trọng Tín Bàt Tràng
  • Địa chỉ: 37 Gầm Cầu, Đồng Xuân, Hoàn Kiếm, HN | 46 Xóm 1 Giang Cao, Bát Tràng, HN
  • Hotline: 0982559529
  • Zalo: 0982559529

Bài mới

Sự tích về Quan Đệ Nhất Thượng Thiên

Sự tích về Quan Đệ Nhất Thượng Thiên

Mục lụcÔng Hoàng Bơ là ai?Sự tích Ông Hoàng BơTích thứ nhất:Tích thứ hai:Tích thứ ba:Đền thờ Ông Hoàng Bơ nằm ở đâu?Đền Ông Hoàng Bơ tại Hải Phòng – Đền Vạn NgangĐền Ông Hoàng Bơ tại Thái Bình –

Xem thêm »
Sự tích Quan Nam Tào - Bắc Đẩu

Sự tích Quan Nam Tào – Bắc Đẩu

Mục lụcÔng Hoàng Bơ là ai?Sự tích Ông Hoàng BơTích thứ nhất:Tích thứ hai:Tích thứ ba:Đền thờ Ông Hoàng Bơ nằm ở đâu?Đền Ông Hoàng Bơ tại Hải Phòng – Đền Vạn NgangĐền Ông Hoàng Bơ tại Thái Bình –

Xem thêm »
Sự tích về Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế

Sự tích về Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế

Mục lụcÔng Hoàng Bơ là ai?Sự tích Ông Hoàng BơTích thứ nhất:Tích thứ hai:Tích thứ ba:Đền thờ Ông Hoàng Bơ nằm ở đâu?Đền Ông Hoàng Bơ tại Hải Phòng – Đền Vạn NgangĐền Ông Hoàng Bơ tại Thái Bình –

Xem thêm »
x