Hotline: 0982559529
Header Style 29

My Cart0

0
There are 0 item(s) in your cart
Subtotal: 0

Tam Tòa Thánh Mẫu – Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt

Tam Tòa Thánh Mẫu - Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt

Tam Toà Thánh Mẫu gồm những vị nào? 

Tam Tòa Thánh Mẫu gồm có 3 ngôi: Đệ Nhất Thượng Thiên, Đệ Nhị Thượng Ngàn, Đệ Tam Thoải Phủ, đó là ba vị thánh mẫu khác nhau. Tuy nhiên, có tài liệu cho rằng Tam tòa Thánh Mẫu đều là hiện thân của Mẫu Liễu Hạnh với 3 lần giáng trần. Hay nói cách khác: Mẫu Liễu Hạnh hóa thân vào cả ba Thiên: Thượng Thiên, Thượng Ngàn và Thoải Phủ.

Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên

Mẫu Thượng Thiên
Mẫu Thượng Thiên

Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên chính là Mẫu Liễu Hạnh. Bà vốn là con vua Ngọc Hoàng có tên là Đệ Nhị Quỳnh Hoa công chúa với 3 lần giáng sinh xuống cõi trần.

  • Lần thứ nhất bà giáng vào nhà họ Phạm ở Quảng Nạp, Vỉ Nhuế, Ý Yên Nam Định. Bà có tên Phạm Tiên Nga và hưởng thọ 40 tuổi/
  • Lần thứ hai bà giáng vào nhà họ Lê ở An Thái, Vụ Bản, Nam Định. Bà kết duyên cùng Trần Đào Lang, đến năm 21 tuổi thì về trời;
  • Lần thứ ba bà giáng hiện tại Nga Sơn, Thanh Hóa hạ trần để tái hợp cùng Mai Sinh là hậu kiếp của Trần Đào Lang được hơn một năm thì mãn hạn hồi tiên.

Lần giáng sinh thứ nhất

Vào đầu thời nhà Hậu Lê, tại ấp Quảng Nạp, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam, có một người đàn ông tên là Phạm Huyền Viên, người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng, người ở ấp Nhuế Duệ, cũng thuộc xã Vỉ Nhuế (hiện nay là thôn Vỉ Nhuế, xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định).

Hai ông bà đều là những người hiền lành, tu nhân tích đức, ngặt nỗi đã ngoài 40 nhưng lại không có mụn con nào. Vào một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng rằng Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con. Từ đó, bà mang thai và sinh ra một bé gái vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, khi trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình.

Vào ngày 10 tháng 10 năm Nhâm Ngọ (1462), cha của nàng qua đời. Hai năm sau đó, mẹ của nàng cũng về nơi tiên cảnh. Phạm Tiên Nga đã làm lễ an táng cha mẹ ở phía đông nam phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn La Ngạn, nơi có đền thờ cha và mẹ của Phạm Tiên Nga).

Sau ba năm để tang cha mẹ, lo mồ yên mả đẹp, Phạm Tiên Nga bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện. Bà đã ủng hộ tiền và công sức giúp dân đắp đê ngăn nước Đại Hà từ bên kia phía núi Tiên Sơn (nay là núi Gôi) đến Tịch Nhi (nay là đường đê Ba Sát, nối Quốc lộ 10 chạy dọc xã đến ngã ba Vọng. Đây cũng chính là con đường nối di tích Phủ Dầy với Phủ Quảng Cung). Ngoài việc đắp đê, bà còn cho làm 15 cây cầu đá, khơi ngòi dẫn nước tưới tiêu, khai khẩn đất ven sông, giúp tiền bạc cho người nghèo, chữa bệnh cho người ốm, sửa đền chùa, cấp lương bổng cho các vị hương sư và khuyên họ cố sức dạy dỗ con em nhà nghèo được học hành.

Khi bà 36 tuổi, bà đến bờ sông Đồi và dựng một ngôi chùa trên mảnh vườn nhỏ, đặt tên là Chùa Kim Thoa. Bên trên thờ đức Nam Hải Quan Thế Âm Bồ Tát, bên dưới thờ cha mẹ của bà.

Sau đó hai năm, bà tới tu sửa chùa Sơn Trường – Ý Yên, Nam Định, chùa Long Sơn – Duy Tiên, Hà Nam, chùa Thiện Thành ở Đồn xá – Bình Lục, Hà Nam. Tại chùa Đồn xá, bà còn chiêu dân phiêu tán, lập ra làng xã, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm và dệt vải.

Tháng Giêng năm Nhâm Thìn (1472), bà trở lại Chùa Kim Thoa, và tháng 9 cùng năm đó, bà trở về quê cũ cùng các anh chị con ông bác để tu sửa đền thờ Tổ họ Phạm khang trang bề thế (nay còn đền thờ ở phía nam xóm Đình thôn La Ngạn). Sau đó, bà lại đi chu du khắp hạt, khuyên răn bà con dân làng những điều phải trái.

Rồi trong đêm ngày 2 tháng 3 năm Quý Tỵ, thời Hồng Đức (1473), trời nổi cơn giông, gió cuốn, mây bay, bà đã hoá thần về trời. Năm đó bà vừa tròn 40 tuổi.

Sau khi Phạm Tiên Nga qua đời, nhân dân xã La Ngạn, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng đã lập đền thờ trên nền nhà cũ, gọi là Phủ Đại La Tiên Từ, để tưởng nhớ đến bà. Đồng thời, quê mẹ của bà là xã Vỉ Nhuế cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao của bà, gọi là Phủ Quảng Cung. Hai đền thờ này vẫn được tôn vinh và duy trì đến ngày nay, là nơi lưu giữ kỷ niệm và tinh thần của bà Phạm Tiên Nga.

Lần giáng sinh thứ hai

Vì thương nhớ cha mẹ và quê hương ở cõi trần mà đến thời Lê Thiên Hựu, năm Đinh Tỵ (1557), bà lại giáng sinh lần thứ hai làm con ông Lê Thái Công và bà Trần Thị Phúc tại thôn An Hải, xã Vân Cát, huyện Thiên Bản, hạt Sơn Nam Hạ (nay là Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định, cách quê cũ Vị Nhuế chừng 7km). Do ông Lê Thái Công nhìn mặt con, thấy nét mặt giống nàng tiên nữ bưng khay rượu trong bữa tiệc chúc thọ Ngọc Hoàng mà ông mơ trước đó nên đặt tên cho con là Lê Giáng Tiên.

Lần này, bà kết duyên với ông Trần Đào Lang, sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên. bà mất ngày 3 tháng 3 năm Đinh Sửu, thời Lê Gia Thái thứ 5 (1577). Năm ấy, bà mới 21 tuổi, tuyệt nhiên không bệnh tật gì. Lăng mộ và đền thờ ở Phủ Dầy, thôn Thiên Hương – Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định.

Giáng Tiên về trời đúng hạn định theo lệnh của Ngọc Hoàng. Nhưng khi nàng đã ở trên trời thì lòng trần lại canh cánh, ngày đêm da diết trong lòng nỗi nhớ cha mẹ, chồng con nên nàng muốn xuống trần gian lần nữa. Khi về đến nhà vừa đúng lúc gia đình đang làm giỗ mãn tang cho nàng, mọi người đều hết sức ngạc nhiên và vô cùng sung sướng. Nàng ôm lấy mẹ mà khóc, rồi kể hết sự tình, dặn anh hãy gắng lo chăm sóc cha mẹ, vì lần này xuống trần nàng không thể ăn ở như lần trước, rồi trở về nhà chồng. Liễu Hạnh gặp chồng, con cái mừng mừng tủi tủi. Nàng cũng kể rõ mọi chuyện cho chồng biết, khuyên chồng hãy cố gắng luyện chí, yên tâm theo đuổi sự nghiệp công danh, đừng quên chăm sóc con thơ, phụng dưỡng cha mẹ. Nàng quét dọn, sửa sang nhà cửa, may vá quần áo cho chồng cho con, rồi bỗng chốc lại thoắt biến lên mây… Cứ như thế, thỉnh thoảng nàng lại hiện về, làm xong các việc rồi lại biến đi. Ròng rã hàng chục năm sau, cho đến khi con cái khôn lớn và Đào Lang công thành danh toại, nàng mới từ biệt để đi chu du thiên hạ.

Các đền phủ liên quan đến lần giáng sinh thứ hai của Phạm Tiên Nga là những đền thờ được xây dựng để tưởng nhớ công lao của bà. Quần thể Phủ Dầy là nơi được coi là trung tâm tín ngưỡng của các đền phủ này, bao gồm các đền phủ chính như: Phủ Công Đồng, Phủ chính Tiên Hương, Phủ Vân Cát, Phủ Bóng, Phủ Giáp Ba, Phủ Tổ, Đền Khởi Thánh và Lăng Mẫu. Mỗi đền phủ đều có ý nghĩa và cảm hứng riêng, như Phủ Công Đồng được xây dựng để tôn vinh công lao của Phạm Tiên Nga trong việc xây đắp đê và cầu, còn Phủ Vân Cát là nơi tôn vinh bà là một người phụ nữ có lòng từ thiện và giúp đỡ dân nghèo. Đến thời điểm hiện tại, các đền phủ này vẫn được coi là một trong những di tích lịch sử, văn hóa đặc biệt của Nam Định và thu hút nhiều du khách đến tham quan, tìm hiểu về cuộc đời và công lao của Phạm Tiên Nga.

Lần giáng sinh thứ ba

Vì tình nghĩa thuỷ chung với chồng con ở trần thế nên đến thời Lê Khánh Đức thứ 2 (1650), bà vân du đến làng Tây Mỗ, xã Hà Thái, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, vào ngày 10 tháng 10 năm Canh Dần, tái hợp với ông Trần Đào lúc này đã tái sinh là Mai Thanh Lâm, sinh được một con trai tên là Cổn. Bà mất ngày 23 tháng Chạp năm Mậu Thân, thời Lê Cảnh Trị thứ 6 (1668). Năm ấy bà vừa 18 tuổi. Đền thờ bà ở Phủ Tây Mỗ, thôn Tây Mỗ, xã Hà Thái, huyện Hà Trung, Thanh Hoá.

Lần giáng sinh thứ ba của Liễu Hạnh được liên kết với hai đền phủ. Đền Đồi Ngang thờ Cậu Bé Đồi Ngang, con trai của Mẫu (có tên thật là Thanh Cổn) được tôn vinh tại đây. Đền Mẫu Sòng Sơn ở Thanh Hóa cũng là nơi thờ cúng Liễu Hạnh. Cả hai đền phủ này đều có ý nghĩa tôn vinh sự hy sinh của Liễu Hạnh và sự hiện diện của nàng ở trần gian để giúp đỡ con người.

Di tích mẫu Thượng Thiên nằm ở đâu?

Mẫu Liễu Hạnh là một trong những thần linh được tôn thờ nhiều nhất trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Di tích của bà có thể được tìm thấy từ Nam Định đến Lạng Sơn, từ Hà Nội đến Thanh Hóa, từ Huế đến nhiều vùng miền khác. Ở mọi nơi, có rất nhiều đền, phủ nổi tiếng được xây dựng để thờ Mẫu Liễu Hạnh và tổ chức các lễ hội để tôn vinh bà.

Theo quan niệm dân gian, Mẫu Liễu Hạnh là Thượng Thiên cai quản miền trời. Cô được tôn thờ là một trong Tứ Pháp, gồm có: Pháp vân, Pháp Vũ, Pháp Điện và Pháp Lôi. Đó là bốn vị nữ thần được cho là tạo ra mây, mưa, sấm, chớp liên quan tới văn hóa nông nghiệp lúa nước. Đền thờ Mẫu thượng thiên có mặt ở khắp mọi nơi, nhưng các nơi chính vẫn là những địa điểm Mẫu giáng trần hoặc hiển linh lưu giữ những di tích thánh tích. Ngày hội chính của Mẫu là ngày 3/3 âm lịch.

Trong đạo Mẫu, Mẫu Liễu Hạnh được tôn thờ là Thánh Mẫu tối cao, tượng thánh mẫu Thượng Thiên thường được đặt ở vị trí chính giữa trong bộ tượng Tam tòa Thánh Mẫu. Trong tín ngưỡng dân gian nói chung, bà được tôn thờ là một trong Tứ bất tử. Bà sinh ra trong một thời đại rối ren, là nguồn cảm hứng tinh thần của người dân trong cảnh nghèo khó. Mẫu Liễu Hạnh được coi là hiện thân của sức mạnh nữ quyền, đối nghịch với giáo lý Nho Khổng với đạo Tam tòng Tứ đức. Điều này giải thích sức sống và sự tồn tại lâu dài của hình tượng Mẫu Liễu Hạnh trong tâm thức của người dân Việt Nam.

Các thánh tích của Mẫu Liễu Hạnh

Mẫu Liễu Hạnh đã để lại nhiều thánh tích trên dương gian. Dưới đây, xin tóm tắt một số thánh tích của Mẫu:

Thánh tích về trận chiến Đèo Ngang

Thời vua Lê Thái Tổ (1385-1433) trị vì. Lần ấy, Tiên Chúa đang hóa phép thành cô gái, mở quán bán cho khách bộ hành ở chân đèo Ngang (Quảng Bình). Lời đồn đại về một cô gái nhan sắc tuyệt vời bỗng đâu xuất hiện ở nơi đèo heo hút gió, làm cho mọi người hết sức ngạc nhiên. Rồi chỗ nào cũng thấy thì thào bàn tán. Chẳng mấy chốc, lời đồn đại cũng tới tận kinh đô đến tai hoàng tử sắp kế nghiệp. Hoàng tử con vua sắp kế nghiệp, vốn là một chàng trai lười biếng học hành nhưng lại ham chơi bời phóng túng đã tìm đến tiên chúa để gạ gẫm. Hoàng tử đã bị Tiên Chúa làm thành một kẻ ngẩn ngơ, điên điên dại dại. Cả hoàng triều bối rối, lo sợ. Tìm thầy tìm thuốc có đến cả tháng mà bệnh tình hoàng tử vẫn không thuyên giảm. Nhà vua nhờ sự giúp đỡ của tám vị Kim Cương đã lừa bắt được Tiên Chúa. Họ đưa Tiên Chúa về kinh để hỏi tội.

Sau khi nghe Tiên Chúa kể lại hành vi của Hoàng tử, Nhà vua đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt, nói lời cảm tạ rồi chúc Tiên Chúa lên đường may mắn.
Thánh tích về gặp gỡ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan
Tương truyền, Phùng Khắc Khoan đã gặp Liễu Hạnh công chúa cả thảy hai lần, và đều có xướng họa thơ: Một lần gặp ở chùa Thiên Minh (Lạng Sơn) khi ông đi sứ về, một lần ở Hồ Tây (nay thuộc Hà Nội) khi ông cùng với hai bạn họ Ngô và họ Lý đi chơi thuyền. Lần ở Hồ Tây, người tiên kẻ tục bèn làm thơ xướng họa liên ngâm, sau được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm chép trong truyện “Vân Cát thần nữ” ở tập Truyền kỳ Tân Phả của bà.

Thánh tích về sự giúp đỡ vua Quang Trung

Khi vua Quang Trung kéo quân ra bắc, Mẫu Liễu đã hóa thành một bà già dâng cháo cho quân Tây Sơn và độ cho cuộc chiến của vua Quang Trung thắng lợi ròn giã tại thành Thăng Long, giải phóng đất nước.

Thánh tích về việc Mẫu Liễu Hạnh quy y nhà Phật

Sau khi hóa về trời, do vẫn còn tâm nguyên giúp đời nên Tiên Chúa khẩn thiết xin Ngọc Hoàng Thượng đế cho trở lại cõi trần gian. Ngọc Hoàng Thượng đế lắng nghe và hiểu rõ tất cả. Ngài cho gọi hai thị nữ tin cậy là Quỳnh Hoa và Quế Hoa bảo cùng đi với Tiên Chúa.

Lần này Tiên Chúa xuống Phố Cát, huyện Thạch Thành, Thanh Hoá. Ở đây, cũng như những lần trước Tiên Chúa thường hiển linh giúp đỡ người lành, trừng trị kẻ ác. Nhân dân cùng nhau góp của góp công, dựng một ngôi đền để lấy chỗ phụng thờ Tiên Chúa.
Những sự việc ấy lọt đến tai vua Lê chúa Trịnh. Hai vị vua chúa cho rằng trước kia tiên vương thả “yêu nữ” ra là một sai lầm, bây giờ đã đến lúc cần phải thẳng tay trừng trị. Bởi vì không thể có luật lệ nào khác ngoài luật lệ của vua chúa và ai muốn làm gì cũng không được tự quyền. Thế là hai vị cho triệu hồi các thuật sĩ tài giỏi trong nước đến kinh đô trong đó có Tiền Quân Thánh (vốn là tướng nhà trời, do mắc lỗi, đã bị đày xuống trần làm con trai thứ ba của một vị thượng sư, sư tổ của phái Nội đạo tràng), giao cho dẫn một một đội quân hùng mạnh, đến thẳng miền Phố Cát để đánh dẹp.
Biết là không thể chống cự lại được, Tiên Chúa bảo Quỳnh Hoa, Quế Hoa tìm cách trốn đi, còn tự mình cũng hóa phép thành đứa trẻ, rồi lại hóa phép thành con rồng có vẩy vàng vẩy bạc múa lượn trên không.

Tiền Quân Thánh lúc ấy ngồi trên voi chín ngà niệm thần chú tung lưới sắt ra chụp lấy. Tiên Chúa bị bắt rồi hiện nguyên hình trở lại. Giữa lúc ấy Phật tổ xuất hiện giải cứu cho Tiên Chúa. Khi vừa thấy Phật tổ, Tiền Quân Thánh liền sững lại, thay vì vậy đã sai quân lính mang đến cho Tiên Chúa một bộ quần áo cà sa và một chiếc mũ ni cô. Tiên Chúa nhận áo mũ rồi thoắt biến lên mây cùng với Phật tổ.

Có lẽ vì tích này, nên chúng ta thấy Đạo Mẫu và Đạo Phật luôn khăng khít đồng hành với nhau. Có thể nói hầu hết ở đâu thờ Tứ Phủ thì ở đó có thờ Phật và ngược lại.

Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn

Mẫu Thượng Ngàn
Mẫu Thượng Ngàn

Mẫu Thượng Ngàn còn gọi là Mẫu Đệ Nhị hay Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn bởi Mẫu đứng thứ hai trong Tam Tòa Thánh Mẫu. Mẫu Thượng Ngàn có rất nhiều tên gọi như: Diệu Tín Thiền sư, Lê Mại Đại Vương, Đông Cuông Công chúa, Lâm Cung Thánh mẫu, Mẫu Đệ nhị Nhạc Phủ, Sơn Tinh công chúa…

Mẫu Thượng Ngàn được thờ chủ yếu tại vùng rừng núi. Có thể nói, ở đâu có rừng núi thì ở đó có đền thờ Mẫu Thượng Ngàn. Có ba nơi được coi là nơi thờ chính là Bắc Lệ (Lạng Sơn), Suối Mỡ (Bắc Giang) và Đông Cuông (Yên Bái). Tuy vậy, ba nơi này lại lưu giữ những truyền thuyết có phần khác nhau về Mẫu Thượng Ngàn.

Trong các ngôi đền thờ chính của Mẫu Thượng Ngàn như: Đền Đông Cuông, đền Suối Mỡ, Đền Công Đồng Bắc Lệ thì Đền Đông Cuông là nơi Mẫu được vua Lê sắc phong Lê Mại Đại Vương. Nếu đặt trong tương quan so sánh với đền Bắc Lệ và Suối Mỡ thì đền Đông Cuông có vị trí quan trọng nhất, là nơi thờ chính Mẫu Thượng ngàn. Căn cứ theo truyền thuyết và các bản văn chầu thì đền Bắc Lệ chính là nơi Lâm Cung Thánh Mẫu hiển linh, âm phù; đền Suối Mỡ là thắng tích lưu lại dấu vết bà tu tiên luyện đạo, còn đền Đông Cuông (Yên Bái) là nơi bà giáng sinh và ngự.

Dưới đây là các thần tích về Mẫu Thượng Ngàn:

Thần tích Mẫu Thượng Ngàn tại đền Suối Mỡ

Mẫu Thượng Ngàn được thờ ở Suối Mỡ là Mỵ Nương Quế Hoa công chúa, con của Vua Hùng Định Vương và hoàng hậu An Nương.Theo sự tích khi sinh bà ra, Hoàng Hậu đau quá phải vịn vào cành quế mới sinh hạ được bà nên Vua Hùng Vương mới đặt tên cho bà là Quế Hoa công chúa. Lớn lên, Quế Hoa luôn nhớ thương mẹ nên đã đi vào rừng sâu để tìm dấu vết người mẹ hiền. Nàng được tiên ông ban cho phép thuật nên đã cùng 12 thị nữ ra sức tu tiên luyện đạo, cứu giúp dân lành. Khi nhân dân các bản mường đã có cuộc sống no ấm, Mỵ Nương Quế Hoa cùng 12 thị nữ bay về trời trên đám mây ngũ sắc.

Tại khu du lịch tâm linh Suối Mỡ có 3 ngôi đền đều là nơi thờ của Quế Hoa Công Chúa: Đền Hạ – còn gọi là đền Công Đồng Suối Mỡ, đền Trung và đền Thượng

Thần tích Mẫu Thượng Ngàn ở đền Bắc Lệ

Ở đền Bắc Lệ lại lưu truyền câu chuyện Mẫu Thượng ngàn là công chúa La Bình. La Bình Công chúa là con gái của Sơn Tinh (tức Tản Viên Sơn Thánh) và Mỵ Nương. Tức La Bình là cháu ngoại của Vua Hùng. Lúc còn nhỏ, La Bình thường được cha cho đi cùng, đến khắp mọi nơi, từ miền núi non hang động đến miền trung du đồi bãi trập trùng để dậy dân săn bắn, chăn nuôi, trồng cây, cấy lúa, làm nhà, làm thuốc chữa bệnh… Đó luôn luôn được theo cha như thế nên La Bình cũng học hỏi được rất nhiều điều. Vốn thông minh sáng dạ, lại chăm chỉ thực hành nên việc gì La Bình cũng biết, cũng giỏi. Những khi Sơn Tinh bận việc hay không thể đi khắp những nơi mà dân chúng cần đến thì La Bình thường được cha cho đi thay. Những lần như thế, La Bình luôn tỏ ra là một người đầy bản lĩnh, biết tự chủ trong giao tiếp, lại cũng biết thành thạo trong mọi công việc. Các sơn thần, tù trưởng đặc biệt quý trọng nàng, coi nàng là người đại diện xứng đáng của Sơn Thánh. Khi Tản Viên và Mỵ Nương, theo lệnh của Ngọc Hoàng Thượng đế trở về trời thành hai vị thánh bất tử thì La Bình cũng được phong là Công chúa Thượng Ngàn, thay cha đảm nhận công việc dưới trần, nghĩa là trông coi tất cả 81 cửa rừng và các miền núi non hang động, các miền trung du đồi bãi trập trùng của nước Nam.

Thần tích Mẫu Thượng Ngàn ở đền Đông Cuông
Theo ghi chép của Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” thì ngôi đền Mẫu Đông Cuông ngày nay, trước đây thờ Đông Quang công chúa nổi tiếng anh linh. Đông Quang Công chúa là Lê Thị Kiểm. Bà là vợ của ông Hà Văn Thiên, người Tày Đông Cuông được triều đình giao cho cai quản Đông Cuông. Như vậy, Mẫu Thượng Ngàn nơi đây đã được hình tượng hóa bởi một nhân vật có thật trong lịch sử đó là Đông Quang Công Chúa. Nơi đây, bà Lê Thị Kiểm được hóa thân vào Mẫu Thượng Ngàn. Trong niềm tin tâm linh của những con nhanh đệ tử đạo Mẫu thì đền Đông Cuông có vị trí vô cùng quan trọng, được coi là nơi ngự chính và nơi giáng sinh của Mẫu Thượng ngàn.
Đền Đông Cuông còn có tên là Đền Thần Vệ quốc theo sắc phong của triều đình Nguyễn. Cũng tại nơi đây, vua Lê Thái Tổ đã phong Bà là Lê Mại Đại Vương, sau khi Bà đã phù cho vua Lê đánh giặc.

Như vậy, nếu Mẫu Thượng Ngàn ở Bắc Lệ (Lạng Sơn) là công chúa Quế Hoa, ở Suối Mỡ (Bắc Giang) là Công Chúa La Bình thì ở Đông Cuông, Mẫu Thượng ngàn là Lâm Cung Thánh Mẫu, vừa là bậc tôi tú anh linh, quyền cao tối thượng vừa gần gũi, bình dị trong hình hài một người vợ, người mẹ trần thế có lai lịch, gốc tích rõ ràng.

Di tích Thánh mẫu Thượng Ngàn nằm ở đâu?

Hiện nay, đền thờ bà có ở khắp nơi, nhưng ba nơi thờ tự chính là đền thờ ở Suối Mỡ, Bắc Giang, đền Bắc Lệ, tỉnh Lạng Sơn, và đền Đồng Cuông ở Yên Bái. Riêng đền Đông Cuông ở Yên Bái gắn với tích bà đầu thai làm con gái một tù trưởng ở đây.
Việc thờ phụng Mẫu Thượng Ngàn thể hiện sự gắn bó của người Việt với núi rừng, không chỉ trong công việc làm ăn sản xuất mà còn trong cả chiến trận. Vậy nên nếu ta có “rừng thiêng nước độc” thì cũng có khi “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, “rừng vàng biển bạc, và “Rừng là tài sản quý…” (Hồ Chí Minh).

Tín ngưỡng dân gian về tầm quan trọng của núi rừng dạy ta biết sợ, biết kính, biết nương nhờ, sẽ mãi là tín ngưỡng hợp với quy luật cuộc sống dù là quá khứ, hay hiện tại và tương lai.

Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ

Mẫu Thoải
Mẫu Thoải

Đệ Tam còn gọi là Mẫu Thoải. Chữ Thoải là đọc chệch của chữ Thủy. Mẫu Thoải tức là Mẫu Thủy hay còn gọi là Thủy Cung Thánh Mẫu. Mẫu Thoải và Mẫu Thượng Ngàn đã ra đời từ rất lâu trước cả Mẫu Liễu Hạnh. Trong Tam Tòa Thánh mẫu, Mẫu Thoải đứng thứ ba.

Mẫu Thoải cùng như Mẫu Thượng Ngàn có nhiều thần tích khá khác nhau, không được thống nhất như Mẫu Liễu Hạnh. Dưới đây người viết liệt kê một số truyền thuyết về thân thế của Mẫu Thoải để các bạn tham khảo.

Các truyền thuyết Mẫu Thoải là con gái vua Thủy Tề (Long Vương)

Có hai truyền thuyết Mẫu Thoải xuất thân là con gái của Long Vương:

Truyền thuyết từ vùng Thái Bình, Nghệ An: Từ thủa hồng hoang, thời mở mang đất nước, vua Kinh Dương Vương đi chu du khắp nơi. Rồi một ngày kia, nhà vua gặp một người con gái nhan sắc tuyệt trần và đã lấy nàng làm vợ. Nàng chính là con gái của Long Vương. Sau này bà đã sinh ra Sùng Lãm chính là vua Lạc Long Quân. Vì nàng là con gái Long Vương nên được làm nhiệm vụ cai quản vùng sông biển, ao hồ.
Truyền thuyết tại vùng Nghệ An cho biết thêm hai người đã gặp nhau bên bờ sông Lam ngày nay, ngày xưa gọi là sông Thanh Long.

Truyền thuyết Mẫu Thoải ở đền Dùm – Tuyên Quang; Đền Dầm, Đền Xâm Thị – Thường Tín – Hà Nội: Mẫu Đệ Tam vốn là con gái Vua Thủy Tề, ở chốn Long Cung. Bà kết duyên cùng Kính Xuyên (là con Vua Đất). Khi Kính Xuyên đi vắng, bà ở nhà khâu vá, chẳng may kim đâm vào tay chảy máu, lấy tấm vải lụa trắng để thấm máu. Thảo Mai, tiểu thiếp của Kinh Xuyên, vốn đã sinh lòng đố kị từ lâu, nhân cơ hội đó giấu tấm lụa đi, đến khi Kính Xuyên về, Thảo Mai lấy ra rồi vu oan cho bà ở nhà đã cắt máu thề nguyền để tư thông cùng kẻ khác. Kính Xuyên không nghe lời thanh minh, ghen tuông mù quáng, một mực bắt đóng cũi bỏ bà lên rừng cho thú dữ ăn thịt. Ở nơi rừng núi, bà được muôn loài quý mến, dâng hoa quả nước uống cho bà. Đến một ngày kia thì bà gặp được Liễu Nghị, vốn là thư sinh quê đất Thanh Miện nhờ tập ấm cha mẹ để lại nên đèn sách chuyên cần. Hôm đó trên đường đi thi thì chẳng may bị lạc vào nơi bà bị đày ải. Thấy bà vậy, Liễu Nghị đến hỏi han, sau khi biết rõ sự tình, Liễu Nghị nhận giúp đỡ bà. Bà đã viết thư nhờ Liễu Nghị mang về đến chốn Long Cung để vua cha thấu hêt sự tình rồi sẽ định liệu sau.

Theo lời bà, Liễu Nghị ra đến sông Ngân Hán, là mái Long Giai ngoài biển Đông, thấy có cây ngô đồng, Liễu Nghị rút cây kim thoa, gõ vào cây ba lần. Tức thì gió giật mưa sa, biển động ầm ầm, giữa dòng thấy hiện lên đôi bạch xà, Liễu Nghị bèn trình bày mọi việc, đôi bạch xà vâng lệnh đưa Liễu Nghị xuống Thủy Cung. Tại đây, Liễu Nghị trao cho Vua Thủy Tề bức thư và kể hết mọi chuyện. Vua cha tức giận, sai người đi bắt Kính Xuyên và Thảo Mai, còn truyền cho Trưởng Tử Xích Lân lên đón bà về. Sau đó bà được rước về Thoải Phủ, kết duyên cùng Liễu Nghị, người được giao cho chức Quốc Tế Thủy Quan.

Tại Hà Nội, có Đền Dầm cũng có một thần tích tương tự như vậy. Đây là một ngôi đền thờ Mẫu lâu đời, có đến 28 sắc phong của triều đình phong kiến. Nơi đây, có thể nói là một đền chính của Mẫu Thoải. Ngoài ra, Hà Nội còn có Đền Ghềnh ở Gia Lâm thờ Mẫu Thoải. Tuy nhiên, tại Đền Ghềnh Mẫu Thoải được hóa thân vào Công Chúa Lê Ngọc Hân. Như vậy, đền chính của Mẫu Thoải là Đền Dầm ở Hà Nội và ba đền tại Tuyên Quang: Đền Ỷ La, Đền Dùm (Đền Thượng) và Đền Hạ. Ba đền này cùng có tích chung về Mãu Thoải.

Truyền thuyết Mẫu Thoải là vợ của Vua Thủy Tề

Ở làng Viêm Xá, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Mẫu Thoải được thờ là Thành hoàng và có sắc thượng phong đề “Nhữ Nương Nam nữ Nam Hải Đại Vương”. Theo thần phả của làng: Mẫu Thoải là vợ của vua Thủy Tề, là Hoàng hậu ở dưới Thủy cung. Vua Thủy Tề trông coi các việc ở biển, còn Mẫu trông coi các việc ở sông, suối. Do sông suối có ở khắp nơi nên Mẫu cũng có mặt ở khắp nơi, nhất là tại các bến sông lớn.

Truyền thuyết Mẫu Thoải là hóa thân của ba công chúa của Lạc Long Quân và Âu Cơ
Theo thuyết này, Lạc Long Quân đã giao cho ba công chúa cai quản sông biển nước nam là: Thủy tinh Động đình Ngọc nữ Công chúa, Hoàng Bà Đoan khiết Phu nhân và Tam giang Công chúa. Ba bà đóng dinh cơ ở sông Nguyệt Đức và có nhiệm vụ coi sóc các sông nước, luồng lạch, dạy dân chế tạo thuyền bè và đan các thứ lưới bắt cá, chế ngự các vị thần mưa, thần gió mỗi khi các vị này xâm hại đến hạ giới. Các Mẫu còn làm mưa và giúp dân chống lụt.

Di tích Thánh mẫu Thoải Phủ nằm ở đâu?

Đền thờ Mẫu Thoải được dựng nhiều, hầu hết do lòng thành kính của nhân dân và ở nơi cửa sông, cửa biển chứ không có dấu tích nào của Mẫu vì bà không giáng phàm. Ngày hội chính của Mẫu thoải là ngày 10/06 âm lịch hàng năm. Lễ hội được tổ chức long trọng nhất là tại Đền Mẫu Thác Hàn Sơn, Hà Trung, Thanh Hóa. Vị trí của bà trong Tam Tòa Thánh Mẫu là bên tay phải của Mẫu Thần Chủ – Đệ Nhất và mặc áo màu trắng.

Lễ nghi thờ Mẫu

Tam Tòa Thánh Mẫu
Tam Tòa Thánh Mẫu

Để hiểu rõ hơn về các khái niệm liên quan đến đền chùa, đình miếu, nhà thờ và nhà Thánh, chúng ta cần phân biệt chúng.

Chùa là nơi thờ Phật, có thể được xây dựng theo kiến trúc cổ truyền của Việt Nam hoặc phương Tây. Chùa là nơi tụ tập của cộng đồng Phật tử để thực hành Phật pháp, học tập và truyền đạt triết lý Phật giáo.

Đền là nơi thờ các vị Thánh, Thần, Vua và Hoàng đế, và cũng có thể thờ các vị anh hùng dân tộc. Đền thờ Thánh được chia thành hai loại chính: Đền thờ Thánh Mẫu và đền thờ Đức Thánh Trần.

Miếu là nơi thờ các vị Thành Hoàng, Thổ Công, tức các vị thần được tôn thờ trong truyền thuyết dân gian. Miếu thường được xây dựng ở các vùng nông thôn, là nơi tâm linh quan trọng của người dân trong cuộc sống hàng ngày.

Nhà Thánh là nơi thờ Khổng Tử, là một trong những nhân vật quan trọng trong lịch sử Trung Quốc, được tôn thờ như một vị thánh.

Nhà thờ là nơi thờ các Thánh Tổ của các đạo giáo, tổ phụ và gia tiên của các dòng họ. Nhà thờ thường là nơi tôn kính những người đã qua đời và được coi là những vị thánh.

Đình là nơi để họp làng, không phải là chỗ thờ cúng, nhưng do điều kiện kinh tế của các địa phương, có nơi cũng đưa việc thờ cúng vào đình làng. Đó là trường hợp ngoại lệ.

Do mục đích khác nhau, nên lễ nghi thờ cúng ở đền, chùa, miếu, nhà Thánh, nhà thờ… cũng khác nhau. Trong lịch sử, các công trình tôn giáo như chùa, đền, đình, miếu, nhà Thánh và nhà thờ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển các tôn giáo trên khắp thế giới. Chúng được coi là những công trình kiến trúc tôn giáo đặc trưng và mang tính biểu tượng của từng quốc gia và vùng lãnh thổ.

Các đền thờ Thánh Mẫu và Hưng Đạo Đại Vương tại Việt Nam đều có những nghi thức và lễ nghi riêng biệt. Trong đó, chùa thường là nơi thờ Phật, nhà thờ thường là nơi thờ Thánh tổ của các đạo giáo, đền là nơi thờ cúng các vị có công với dân, với nước, và miếu là nơi thờ các vị linh thiêng như Thành Hoàng, Thổ Công.

Trong các đền thờ Thánh Mẫu, nghi thức thờ cúng được gọi là “hầu” và có 2 dạng: hầu bóng (còn gọi là hầu mát) và hầu đồng. Hầu bóng là nghi thức thờ cúng đơn thuần, trong khi hầu đồng được quan niệm là người hầu đã có phần hồn của các vị Thánh Linh giáng vào và nhập vào. Bài viết này tập trung trình bày về các thủ tục, lễ nghi và nghi thức hầu mát trong các đền thờ Thánh Mẫu.

Trong các đền thờ Thánh Mẫu ở Việt Nam, có 2 hệ thống: Tứ phủ và Tam phủ. Tứ phủ là hệ đền thờ Thánh Mẫu và Tam phủ là hệ đền thờ Hưng Đạo Đại Vương và các tướng lĩnh, gia thân của nhà Trần. Hai hệ đền thờ này thường được gọi là đền thờ Cha và đền thờ Mẹ. Mẫu Đệ Nhất (công chúa Liễu Hạnh) là vị Thánh đứng đầu trong các đền thờ Thánh Mẫu, tiếp đó là Mẫu Đệ Nhị, Mẫu Đệ Tam và các Chầu (tức là các Mẫu thuộc các dân tộc thiểu số anh em), từ Chầu Bà đến Chầu Bé, 12 Chầu. Sau đó là 12 quan lớn, gọi theo thứ tự Quan Lớn Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, và 12 ông Hoàng, gọi theo thứ tự Hoàng Nhất, Hoàng Đôi, Hoàng Bảy, Hoàng Mười. Các Quan Lớn và các Ông Hoàng đều có thần phả, và một số vị còn có gốc tích nhân thần, quê quán và sắc phong của các triều đại.

Ví dụ, ông Hoàng Bảy có đền thờ riêng ở Lào Cai, ông Hoàng Mười ở Nghệ An,… Sau các ông Hoàng là các Cô, các Cậu. Các Cô, các Cậu cũng là những nhân vật lịch sử, một số vị còn có đền thờ riêng ở các địa phương trong nước. Ví dụ : Cô Bơ có đền thờ ở Thanh Hóa, Cậu Út có đền thờ ở Cửa Sót, Hà Tĩnh,…

Kinh Thánh Mẫu

Ân ba Thánh Mẫu Tam Toà
Tam Toà Tiên Chúa thực là linh thiêng
Vạn linh vạn phép vô biên
Hội đồng Thánh Mẫu chư Tiên cứu đời
Chư tôn Thánh Mẫu thương đời
Đứng lên Tứ phủ người người đều kinh
Uy uy phép phép linh linh
Thương người xót cả chúng sinh muôn loài
Các Mẫu cai quản các ngôi
Cai quản Tứ phủ Vua thời ban cho
Tam ân tứ ân giúp phù
Thương con các Mẫu công phu giáng miền
Thiên Tiên có Mẫu Cửu Thiên
Ngao du quản sát bốn miền trời xanh
Thương người Mẫu lại kêu van
Kêu lên Quốc Mẫu cao nghìn Người thương
Nhìn con ở dưới thế gian
Trên trời Mẫu thấy lại càng xót đau.
Trông con Mẫu chẳng vào đâu
Nước mắt Mẫu chảy biển sâu suối nguồn
Dạy con phải nhớ luôn luôn
Vâng lời đức mẹ Hoàng Thiên toàn tài
Tu thì phải nghĩ lâu dài
Dần dần chuyển hoá đổi đời sạch trong
Vững tâm tin tưởng trong lòng
Đã có đức Mẹ Mẫu Hoàng phù cho
Đường tu còn lắm quanh co
Nhớ mà vững trí sao cho thành tài
Sau này lâm mệnh chung thời
Ta truyền hộ vệ cứu người về Tiên
Âm dương đôi ngả phân trần
Đệ nhị Thánh Mẫu Thượng Ngàn chứng tâm
Miền Thượng Mẫu giáng về đền
Mẫu ban phúc lộc muôn dân được nhờ
Cầu cho dân nước nên thơ
Nhân khanh vật thịnh còn chờ bình yên
Đệ Tam Thánh Mẫu Thuỷ Tiên
Mẫu về cắt hết nghiệp miền thế gian
Lòng thành tấu đối kêu van
Kêu cho khắp nước vẻ vang muôn đời
Kêu cho khắp hết gầm trời
Được yên tất cả mọi nơi thanh bình
Sau kêu đến tận gia đình
Cho nhà hạnh phúc cho mình ấm no
Địa Tiên Thánh Mẫu vân du
Khâm sai Tứ phủ giúp phù thiện lương
Quán xem khắp hết trần dương
Nơi người sinh sống mọi người an nguy
Lại nắm trong tay hồn vì
Ai thì trong sáng ai thì sạch nhơ
Các con tu đạo phụng thờ
Phải giữ hiếu tín phút giờ chẳng sai
Con đừng nói một thành hai
Ăn gian nói dối đời đời xấu danh
Bạn bè nên giữ công bình
Không khinh không ghét không quyền không chê
Vần thơ Mẹ giáng mới về
Cho con học tập tốt thì chóng lên
Kính lạy Hội đồng Thánh Mẫu!
Kính lạy Hội đồng Thánh Mẫu!
Kính lạy Hội đồng Thánh Mẫu!
Kính lạy Thiên Tiên Thánh Mẫu Cửu Trùng Thiên Thanh Vân Vạn Hoa Công chúa.

Ý nghĩa tín ngưỡng thờ Mẫu – giá trị văn hóa trường tồn

Tam Tòa Thánh Mẫu
Tam Tòa Thánh Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một trong những tín ngưỡng dân gian lâu đời của người Việt, với sự thờ phụng tôn vinh các vị Thánh Mẫu trong các đền, chùa, miếu và các lễ hội truyền thống. Tuy nhiên, để hiểu đúng và đầy đủ về tín ngưỡng này, chúng ta cần phải có cái nhìn rõ ràng và chân thực.

Tức thờ Mẫu bắt nguồn từ việc thờ nữ thần trong các tín ngưỡng cổ đại, sau đó được chuyển biến và phát triển theo sự thay đổi của xã hội. Tuy nhiên, tín ngưỡng thờ Mẫu không chỉ là một tập hợp các nghi lễ, mà còn là một giá trị văn hóa, thể hiện sự tôn trọng, biết ơn và lòng thành kính của con người đối với người mẹ và những vị Thánh Mẫu.

Giá trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ Mẫu là tâm hướng thiện, bởi mỗi người mẹ đều dạy con sống hướng thiện. Người đến thờ Mẫu tâm phải sáng, biết đối nhân xử thế, biết ăn ở, thành tâm thờ phụng ông bà, tổ tiên và biết đảm đương trách nhiệm với cộng đồng. Hơn nữa, trong tâm trí của người Việt, Mẫu luôn là người mẹ che chở, bảo bọc, mang đến cho con cháu sức khỏe, tài lộc và may mắn. Những người thờ Mẫu đều thể hiện tấm lòng thành kính từ khi dâng lễ vật, khi chắp tay vái lạy khẩn cầu. Ngay cả những người làm “dịch vụ” cũng thể hiện cái tâm bằng sự nghiêm túc và coi trọng chữ tín. Do đó, việc thờ Mẫu không chỉ là một hành động tín ngưỡng, mà còn là một hành động văn hóa tôn trọng người mẹ và những vị Thánh Mẫu.

Thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian lâu đời của người Việt, song cũng là một lĩnh vực rất nhạy cảm. Nếu không tỉnh táo sẽ rất dễ dẫn đến bị lạm dụng để mê tín dị đoan. Mẫu là người mẹ, người phụ nữ trong cõi tâm linh của con người, Mẫu luôn sống động trong tâm trí người Việt. Hiện nay, tín ngưỡng này vẫn đang được thực hành phổ biến và đa dạng ở khắp các vùng miền trên cả nước cũng như trong các cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một phần không thể thiếu của văn hóa dân gian Việt Nam. Việc gìn giữ và truyền dạy đúng tín ngưỡng này là một nhiệm vụ quan trọng, giúp bảo vệ di sản văn hóa và duy trì những giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam.

Hầu đồng – nghi lễ chính trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, hầu đồng là một trong những nghi lễ quan trọng và đặc sắc nhất, được xem là nghệ thuật sân khấu truyền thống của dân tộc Việt Nam. Những người lên đồng sẽ hóa thân thành các vị Thánh Mẫu, thể hiện sắc diện và động thái đặc trưng trong không gian văn hóa linh thiêng.

Những người đến tham dự có thể trải nghiệm, cảm nhận được vẻ đẹp của các vị Thánh Mẫu, ngắm nhìn những bộ trang phục lộng lẫy, nghe hát văn kể về sự tích công trạng của các vị Thánh Mẫu trong không gian nghi lễ với nhiều sắc màu rực rỡ. Điều đặc biệt của nghi lễ này là sự tương tác giữa người hầu đồng, người hát văn và khách tham dự, tạo nên một không gian tâm linh và nghệ thuật độc đáo.

Muốn thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu, trước hết phải có phủ thờ Mẫu. Phủ thờ Mẫu được xây dựng với kiến trúc đặc biệt, được trang trí bằng những họa tiết độc đáo mang ý nghĩa tôn vinh các vị Thánh Mẫu. Người đứng ra thực hiện việc lên đồng phải là người có “căn” – ấy là theo cách nói dân gian, hiểu nôm na một cách khoa học hơn thì đó là người có một trạng thái tâm lý không bình thường.

Sau khi đã có phủ thờ Mẫu, cần phải có người hát văn và người hầu dâng. Những người này được gọi là những người “nâng khăn, sửa túi” bởi vì họ có trách nhiệm sửa soạn mũ áo, xiêm y cho thanh đồng trước khi bắt đầu nghi lễ. Khi hương đã được thắp lên, thanh đồng sẽ được phủ một tấm vải trên đầu và thực hiện các động tác và hất khăn ra phía sau. Điều bắt buộc là trước điện thờ phải có một chiếc gương để thanh đồng nhìn vào bóng mình trong gương mới hầu được (hay còn gọi là hầu bóng).

Sự tương tác giữa người hầu đồng, người hát văn và những người tới dự trong không gian buổi lễ khiến cho con người cảm thấy thăng hoa, quên đi phiền muộn trong cuộc sống hàng ngày. Họ rất vui mừng khi được nhận lộc Thánh Mẫu ban phát.

Thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian có tính nghệ thuật sân khấu cao. Khi đến thờ Mẫu, chúng ta sẽ cảm thấy thanh thản, thư thái bởi không gian tâm linh, âm thanh và ca từ của hát văn, sự linh thiêng trong cách bài trí bàn thờ, đồ dâng lên hầu Thánh, những bộ trang phục lộng lẫy và trang sức của người hầu đồng,… Tất cả tạo nên vẻ đẹp độc đáo được hội tụ, chắt lọc từ cuộc sống đương đại. Và trên hết, giá trị văn hóa Việt đã tạo nên sức sống trường tồn của tín ngưỡng thờ Mẫu.

Tín ngưỡng thờ Mẫu – Di Sản văn hóa phi vật thể đại điện của nhân loại

Năm 2016, UNESCO đã công nhận “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt” là Di sản văn hóa phi vật thể đại điện của nhân loại. Việc ghi danh di sản này đánh dấu một bước quan trọng trong việc bảo vệ và gìn giữ những giá trị văn hóa phi vật thể của con người. Điều này cũng giúp nâng cao nhận thức và tầm quan trọng của di sản ở các cấp độ khác nhau.

“Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt” được UNESCO công nhận với nhiều giá trị nổi bật. Đây là một phương thức quan trọng đối với các cộng đồng để tái hiện ký ức lịch sử, bản sắc văn hóa, tinh thần đoàn kết và đáp ứng nhu cầu tâm linh. Đây là di sản chung của nhiều nhóm dân tộc ở Việt Nam, do đó việc ghi danh sẽ khuyến khích đối thoại và tôn trọng sự đa dạng văn hóa ở cấp địa phương. Sự sáng tạo của con người sẽ phong phú hơn vì các yếu tố nghệ thuật của di sản bao gồm những bộ trang phục, điệu múa và âm nhạc chiếm một vị trí quan trọng trong lễ hội.

Tại Lễ đón Bằng công nhận danh hiệu của UNESCO tại Nam Định vào ngày 2/4/2017, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nhấn mạnh rằng “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” là di sản chứa đựng nhiều giá trị nhân văn sâu sắc. Nó được cộng đồng sáng tạo trao truyền qua nhiều thế hệ, thể hiện quan điểm về ứng xử giữa con người với con người, con người và thiên nhiên, trong đó đề cao vai trò của người phụ nữ, người mẹ trong cuộc sống gia đình và xã hội.

Các thực hành trong tín ngưỡng này không chỉ mang tính chất tôn giáo mà còn phản ánh sự tích hợp nhiều loại hình văn hóa truyền thống của dân tộc. Với sự dung hòa sắc thái văn hóa của đồng bào các dân tộc, tín ngưỡng thờ Mẫu tạo nên một bức tranh đa màu sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Những bộ trang phục lộng lẫy, điệu múa và âm nhạc đặc trưng của từng vùng miền đã được kết hợp tinh tế trong các lễ hội, tạo ra một không gian đặc biệt, vừa trang trọng vừa phóng khoáng, vừa truyền thống vừa hiện đại.

Tín ngưỡng thờ Mẫu còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đây là một nét đẹp văn hóa dân tộc Việt Nam, được truyền từ đời này sang đời khác. Việc tôn vinh và bảo tồn di sản này giúp gìn giữ và phát triển nét đẹp văn hóa dân tộc, đồng thời góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, làm nên bản sắc văn hóa của đất nước.

Tham khảo

Quần thể Phủ Dầy

Quần thể di tích tâm linh Phủ Dầy
Quần thể di tích tâm linh Phủ Dầy

Phủ Dầy (tên gọi khác phủ Giầy, phủ Giày) là quần thể di tích tâm linh đạo Mẫu tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Trong đó, kiến trúc quan trọng nhất là đền thờ bà chúa Liễu Hạnh ngay sát chợ Viềng. Xưa kia, nơi đây được biết đến là ngôi đền lớn tại làng Kẻ Dầy. Cho đến khi Thánh Mẫu Liễu Hạnh được sắc phong là “Liễu Hạnh Công Chúa” thì được đổi tên thành Phủ Dầy. Do “Phủ” là danh từ chỉ định dinh cơ của các vương công, và Thánh Mẫu cũng là công chúa nên nơi thờ cũng sẽ được dùng chữ Phủ.

Hơn thế nữa còn có những tích khác cho tên gọi của nơi đây. Xuất phát từ truyền thuyết Bà Chúa Liễu Hạnh vì quá thương nhớ gia đình nên đã để lại một chiếc giày ở trần gian trước khi về thượng giới. Hay có huyền thoại: Vua đi ngang qua vùng này và nghỉ đêm ở quán hàng của bà chúa Liễu Hạnh, sau đó được tặng một đôi giày nên đã lập nơi thờ tự gọi là Phủ Giầy. Còn khi gọi là Phủ Dầy vì chính nơi này có món bánh dày nổi tiếng, lại có người cho rằng, Kẻ Giầy xuất phát từ nơi có gò đất nổi lên hình bánh dày trước cửa phủ.

Tất cả những câu chuyện dù chưa xác định rõ thực hư nhưng nó đã góp phần cho sự kì bí, cuốn hút về mối liên quan giữa Phủ Dầy và Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Quần thể Phủ Dầy có hơn 20 công trình kiến trúc đặc sắc, trong đó có 3 công trình gắn liền chặt chẽ với cuộc đời Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong lần giáng sinh thứ 2, đó là phủ Tiên Hương (phủ chính), phủ Vân Cát và lăng Chúa Liễu.

Phủ Tiên Hương (phủ chính) là một công trình có kiến trúc đẹp được xây dựng từ thời Cảnh Trị nhà Lê (1663 – 1671), đã qua nhiều lần trùng tu. Phủ Tiên Hương có 19 toà với 81 gian lớn nhỏ, mặt phủ quay về phía tây nam nhìn về dãy núi Tiên Hương. Trước phủ có hồ tròn, rồi đến một sân rộng, sau đó là 3 toà nhà dàn hàng ngang hai tầng, tách mái: nhà bia, nhà trống, nhà chiêng là nơi đón khách tới hành hương. Một hồ bán nguyệt có lan can thấp bao quanh, có bình phong và hai cầu vượt bằng đá chạm khắc hình rồng vớt đường nét tinh xảo. Điện thờ chính của Phủ có 4 lớp thờ (4 cung): đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ. Các cung đều được chạm khắc tinh vi các hình ảnh rồng, phượng, hổ…. Chính cung (cung đệ nhất) có một khám thờ khảm trai, bề thế và tinh xảo.

Phủ Tiên Hương
Phủ Tiên Hương

Phủ Vân Cát cách phủ Chính không xa và cũng có đền thờ Thánh Mẫu. Phủ được xây dựng trên khu đất rộng gần 1ha, mặt quay về hướng Tây Bắc. Phủ Vân Cát hiện nay có 7 toà với 30 gian lớn nhỏ. Phía trước là hồ bán nguyệt, giữa hồ là nhà thủy lâu, 3 gian, mái cong, sau hồ là hệ thống cửa Ngọ môn với 5 gác lầu. Phủ Vân Cát cũng có 4 cung như ở phủ Tiên Hương. Trung tâm là nơi thờ chúa Liễu, bên trái là chùa thờ Phật, bên phải là đền thờ Lý Nam Đế.

Phủ Vân Cát
Phủ Vân Cát

Lăng Thánh Mẫu Liễu Hạnh nằm bên cạnh phủ Chính được xây dựng vào năm 1938. Lăng được xây dựng toàn bộ bằng đá xanh, chạm trổ hoa văn đẹp tinh xảo, là khu vực hình chữ nhật với tổng diện tích 625m2, gồm có cửa vào lăng theo hướng đông tây, nam bắc. Các cửa đều có trụ cổng trên đắp hình búp sen. Giữa lăng là ngôi mộ khối bát giác, mỗi cạnh chừng 1m. Toàn lăng có tổng cộng 60 búp sen, tạo điểm ấn tượng riêng biệt cho lăng của vị thần chủ trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Vào ngày 3 tháng 3 âm lịch hàng năm là ngày diễn ra lễ hội Phủ Dầy nhộn nhịp cả vùng. Đây là lễ hội được đánh giá là một trong 10 lễ hội đầu năm độc đáo tại Việt Nam. Mục đích chính của lễ hội nhằm để tỏa lòng biết ơn với thánh mẫu Liễu Hạnh.

Lăng Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Lăng Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Lễ hội phủ Dầy có ba nghi thức chính, bao gồm:

  • Lễ Rước Mẫu Thỉnh Kinh
  • Lễ Rước Đuốc
  • Lễ kéo chữ Hoa Trượng Hội

Bên cạnh ba lễ chính thì trong giai đoạn lễ hội Phủ Dầy diễn ra còn có các trò chơi truyền thống vô cùng thú vị như: Thi hát văn, hát chèo, múa rối nước, đấu vật, đấu cờ người, thổi cơm thi,… Đặc biệt, còn có nghi lễ hầu đồng diễn ra trong suốt thời gian lễ hội. Đây là một nghi thức không thể thiếu trong hoạt động tín ngưỡng dân gian và nhất là tín ngưỡng thờ Mẫu.

Lễ hội diễn ra trong không khí tưng bừng, sôi nổi, từ trẻ đến già ai nấy cũng đều nô nức tham gia lễ hội. Nhằm bày tỏ lòng thành kính với Thánh Mẫu cũng như cầu mong những điều thuận lợi, may mắn cho một năm mới đầy phấn khởi.

Phủ Dầy không chỉ là nơi tôn nghiêm và thánh thiện gắn liền với những di tích tâm linh của Thánh Mẫu Liễu Hạnh mà cảnh sắc non nước hữu tình của nơi đây cũng là một dấu ấn đẹp trong lòng du khách. Với những rặng núi xanh, những con đường đèo uốn lượn, những cánh đồng lúa chín đẹp mắt, Phủ Dầy là một điểm đến lý tưởng cho những ai muốn tìm về với thiên nhiên, tìm lại bình yên và thanh tịnh trong lòng.

Vừa chiêm bái Thánh Mẫu vừa thưởng ngoạn thiên nhiên, du khách sẽ  có được những trải nghiệm tuyệt vời mà Phủ Dầy mang lại. Tại đây, du khách có thể dạo bước qua các ngôi đền cổ kính, nhìn ngắm những tác phẩm điêu khắc tinh xảo, cảm nhận sự linh thiêng của đất trời. Đặc biệt, tại đây du khách còn có cơ hội được thưởng ngoạn khung cảnh đẹp tuyệt vời từ những địa điểm như đồi Ngựa, đỉnh Đuốc, chùa Hương Cao,… Những địa điểm này không chỉ là một nơi thờ cúng mà còn là nơi để thư giãn, tìm về với tự nhiên, tìm lại sự tĩnh lặng và bình yên trong tâm hồn.

Với những giá trị tâm linh, lịch sử và thiên nhiên đẹp mắt, Phủ Dầy đang trở thành điểm đến thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Đến đây, du khách không chỉ được chiêm bái và tôn vinh Thánh Mẫu Liễu Hạnh mà còn được trải nghiệm những giá trị tinh thần và thiên nhiên tuyệt vời mà nơi đây mang lại.

Đền Đông Cuông

Di tích lịch sử văn hoá Quốc gia đền Đông Cuông (Văn Yên – Yên Bái) từ lâu đã là điểm nhấn tâm linh, không gian hội tụ và lan toả tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng Ngàn của người Việt, góp phần quan trọng vào bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt”.

Đền Đông Cuông
Đền Đông Cuông

Đền Đông Cuông cách thành phố Yên Bái 50km về phía Tây Bắc, toạ lạc bên dòng sông Hồng, thuộc địa phận thôn Bến Đền, xã Đông Cuông (Văn Yên – Yên Bái).

Đền Đông Cuông được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nhận định là vùng khởi nguồn của Mẫu Thượng Ngàn trong hệ thống thờ Mẫu của người Việt, có vị trí quan trọng trong hệ thống thờ đạo Mẫu, được coi là cội nguồn của Mẫu Thượng Ngàn.

Ngôi đền tọa lạc ở thế “Tán phong tụ thuỷ”, bao quanh phía bên phải đền có đoạn sông tạo hình bán nguyệt, nơi đây, dòng sông Hồng hiền hoà chảy qua, phía xa xa là những triền núi trùng điệp tạo nên vẻ đẹp sơn thuỷ hữu tình. Phía trước cửa ngôi đền có cây đa hơn 800 năm tuổi tỏa bóng xuống ngôi đền cổ kính như gợi lên sắc màu thời gian của miền đất thiêng Đông Cuông.

Theo sử sách và những câu chuyện kể được lưu truyền trong dân gian, Mẫu Đệ Nhị Thượng ngàn vốn là Công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh Và Mỵ Nương. Công chúa La Bình là một cô gái xinh đẹp, nết na, chăm chỉ lao động và sống hòa đồng với cỏ cây, con người. La Bình luôn theo cha đi cai quản các miền rừng núi, sông suối miền thượng ngàn, chiêm ngưỡng núi rừng xanh tươi bạt ngàn với bao hoa thơm trái ngọt. Dừng chân ở nơi nào, Công chúa La Bình cũng dạy người dân trồng lúa, trồng cây trái và lập sơn trang, nhà cửa. Sau này, khi Sơn Tinh và Mỵ Nương về trời, hóa vào cõi bất tử thì công chúa La Bình được phong là Công chúa Thượng ngàn, đảm nhiệm việc cai quản miền rừng núi.

Đền Đông Cuông còn là nơi hương hỏa và ghi ơn công đức của các vị thủ lĩnh người dân tộc thiểu số địa phương có công lao lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Mông – Nguyên xâm lược như Hà Đặc, Hà Chương, Hà Bổng… Kiến trúc của đền Đông Cuông mang đậm nét cổ kính gắn với không gian thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Quần thể đền Đông Cuông gồm các ngôi đền được bài trí hài hoà như đền Mẫu, miếu Cô, miếu Cậu, tòa sơn trang, miếu thần linh và miếu Đức Ông…

Đền được xây dựng theo kết cấu hình chữ đinh gồm hai phần là toà đại bái và cung cấm. Toà đại bái là không gian để du khách thập phương đến chiêm bái, cúng lễ và cũng là nơi thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng Ngàn. Ngôi đền hiện còn lưu giữ và thờ tự bức tượng Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, tượng cao quan Đại Vương người Tày Khao (người địa phương gọi là Quan Hoàng Báo) và nhiều pho tượng cổ cùng các cổ vật quý. Năm 2009, đền được công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia.

Không gian thờ Mẫu tại đền Đông Cuông
Không gian thờ Mẫu tại đền Đông Cuông

Lễ hội đền Đông Cuông được tổ chức vào tháng Giêng hằng năm với nhiều nghi thức cổ truyền. Đặc biệt, lễ hội có sự tham gia của đồng bào các dân tộc thiểu số vùng Văn Yên nên mang đến một sắc màu độc đáo, đa dạng. Mở đầu là lễ mổ trâu tế Mẫu, đây là nghi lễ chính thức được duy trì từ bao đời nay ở Đông Cuông. Sau đó là lễ rước tượng Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn sang sông. Mỗi năm chỉ tổ chức rước Mẫu sang sông một lần để thắp hương cúng tế tướng quân Hà Đặc tại miếu Ghềnh Ngai phía tả ngạn sông Hồng. Sau khi thắp hương xong, tượng Mẫu được rước về đền để làm lễ dâng hương Mẫu. Phần hội của lễ hội đền Đông Cuông được tổ chức với nhiều hoạt động văn hoá, trò chơi dân gian như ném còn, hát then, hát cọi, đấu vật, kéo co, hát chèo, múa xoè… thu hút hàng ngàn người dân và du khách thập phương tham gia.

Đặc biệt, đền Đông Cuông là không gian hội tụ và thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ nói chung và thờ Mẫu Thượng Ngàn nói riêng của người Việt từ bao đời nay. Dừng chân ở đền Đông Cuông, du khách sẽ cảm nhận được sắc màu và những thanh âm độc đáo của nghi lễ chầu văn, hầu đồng do các nghệ nhân, các thanh đồng thể hiện. Từ ngôi đền cổ kính Đông Cuông, tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng Ngàn có sự lan toả không chỉ ở các ngôi đền vùng Tây Bắc mà còn ở nhiều ngôi đền vùng đồng bằng, trung du miền Bắc, miền Trung. Tại các ngôi đền, Mẫu Thượng Ngàn được phối thờ trang trọng, linh thiêng, thể hiện sự tri ân, biết ơn của người dân đất Việt đối với người Mẹ được huyền thoại hoá. Từ đó, tín ngưỡng thờ Mẫu đã đi vào đời sống của người Việt một cách tự nhiên, mang những giá trị nhân văn cao đẹp.

Mới đây, ngày 16/01/2023, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 73/QĐ-BVHTTDL chính thức ghi danh Lễ hội truyền thống đền Đông Cuông vào Danh mục Di sản Văn hóa phi vật thể cấp Quốc gia. Lễ công bố Quyết định chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia “Lễ hội Đền Đông Cuông” và khai mạc Lễ hội Đền Đông Cuông năm 2023 diễn ra ngày 1- 2/2/2023 (tức 11-12 tháng Giêng Quý Mão). Đây là dịp để du khách thập phương đến chiêm bái và trải nghiệm không gian thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Thượng Ngàn của người Việt.

Trong bài phát biểu khai mạc Lễ công bố Quyết định ghi danh Lễ hội đền Đông Cuông vào danh mục Di sản văn hoá phi vật thể Quốc gia, Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái Trần Huy Tuấn khẳng định: “Đền Đông Cuông từ lâu đã nổi danh là một trong những ngôi đền linh thiêng; một địa điểm du lịch tâm linh nổi tiếng vùng Tây Bắc. Đền là nơi thờ chính Mẫu Thượng Ngàn – Mẫu Đệ Nhị trong tục thờ Mẫu Tam phủ của người Việt; thờ Thần Vệ Quốc và các vị anh hùng dân tộc hi sinh trong các cuộc khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm”

Liên hệ

  • Trọng Tín Bàt Tràng
  • Địa chỉ: 37 Gầm Cầu, Đồng Xuân, Hoàn Kiếm, HN | 46 Xóm 1 Giang Cao, Bát Tràng, HN
  • Hotline: 0982559529
  • Zalo: 0982559529

Bài mới

Đền Đồng Bằng và sự tích về Vua Cha Bát Hải

Đền Đồng Bằng và sự tích về Vua Cha Bát Hải

Mục lụcTam Toà Thánh Mẫu gồm những vị nào? Mẫu Đệ Nhất Thượng ThiênMẫu Đệ Nhị Thượng NgànMẫu Đệ Tam Thoải PhủLễ nghi thờ MẫuKinh Thánh MẫuÝ nghĩa tín ngưỡng thờ Mẫu – giá trị văn hóa trường tồnHầu đồng –

Xem thêm »
Sự tích về Quan Đệ Nhất Thượng Thiên

Sự tích về Quan Đệ Nhất Thượng Thiên

Mục lụcTam Toà Thánh Mẫu gồm những vị nào? Mẫu Đệ Nhất Thượng ThiênMẫu Đệ Nhị Thượng NgànMẫu Đệ Tam Thoải PhủLễ nghi thờ MẫuKinh Thánh MẫuÝ nghĩa tín ngưỡng thờ Mẫu – giá trị văn hóa trường tồnHầu đồng –

Xem thêm »
Sự tích Quan Nam Tào - Bắc Đẩu

Sự tích Quan Nam Tào – Bắc Đẩu

Mục lụcTam Toà Thánh Mẫu gồm những vị nào? Mẫu Đệ Nhất Thượng ThiênMẫu Đệ Nhị Thượng NgànMẫu Đệ Tam Thoải PhủLễ nghi thờ MẫuKinh Thánh MẫuÝ nghĩa tín ngưỡng thờ Mẫu – giá trị văn hóa trường tồnHầu đồng –

Xem thêm »
Sự tích về Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế

Sự tích về Vua cha Ngọc Hoàng Thượng Đế

Mục lụcTam Toà Thánh Mẫu gồm những vị nào? Mẫu Đệ Nhất Thượng ThiênMẫu Đệ Nhị Thượng NgànMẫu Đệ Tam Thoải PhủLễ nghi thờ MẫuKinh Thánh MẫuÝ nghĩa tín ngưỡng thờ Mẫu – giá trị văn hóa trường tồnHầu đồng –

Xem thêm »
Những điều bạn cần biết về Ban Công Đồng

Những điều bạn cần biết về Ban Công Đồng

Mục lụcTam Toà Thánh Mẫu gồm những vị nào? Mẫu Đệ Nhất Thượng ThiênMẫu Đệ Nhị Thượng NgànMẫu Đệ Tam Thoải PhủLễ nghi thờ MẫuKinh Thánh MẫuÝ nghĩa tín ngưỡng thờ Mẫu – giá trị văn hóa trường tồnHầu đồng –

Xem thêm »
x